VAI TRÒ CỦA SẮT ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG

Thiếu sắt làm cây bị rụng lá được ghi nhận ở ngô, trong khi lá bạc trắng thấy rõ ở lúa. Bạc trắng phần thịt lá cũng điển hình ở các cây có múi và dâu tây, trong khi bạc trắng toàn bộ lá thấy rõ trên cây đào


Vai trò của sắt đối với cây trồng

Sắt là nguyên tố vi lượng cần thiết trong nông nghiệp, có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sống của cây. Thiếu vi lượng sắt, quá trình tổng hợp một số chất trong cây đình trệ, làm giảm khả năng hút kali, cây kém phát triển. Vi lượng chelate sắt là thành phần của một số protein đóng vai trò chìa khoá trong hệ thống enzym của cây, đó là các enzym catalase, peroxidase và một vài cytochrome. (Cytochrome có tác dụng đối với hô hấp của tế bào sống).

Sắt tuy không cấu tạo nên diệp lục tố, song nó cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp và duy trì chất diệp lục tố trong cây. Sắt có vai trò chủ yếu trong sự chuyển hoá axit nucleic, ảnh hưởng, đến chuyển hoá RNA trong cây. Sắt giữ vai trò quan trọng trong quá trình quang tổng hợp, làm giảm nồng độ NO2, SO4²” trong cây và tăng đồng hoá N2.

Phân bổ hàm lượng sắt trong cây trồng



Hàm lượng sắt trong cây khác nhau rất đáng kể (50-100ppm) tuỳ theo giống và tuổi. Cây họ đậu giàu sắt hơn cỏ, trong khi lúa là cây lấy đi nhiều sắt nhất. Trong cây, bộ phận già có hàm lượng sắt cao hơn bộ phận non.
Sắt là nguyên tố vi lượng ít di động trong cây nên khi thiếu sắt, các bộ phận non của cây bị ảnh hưởng trước trong khi bộ phận già ít bị ảnh hưởng.
Hàm lượng sắt cao nhất khi cây còn non, sau đó giảm dần theo tuổi cây. Việc chẩn đoán sắt trong cây cần chuẩn hoá ở các bộ phận và tuổi cây vì mỗi bộ phận có ngưỡng khủng hoảng khác nhau. Sắt trong cây bị ảnh hưởng do tương tác bởi nhiều nguyên tố khác.
Hàm lượng lớn, canxi, magiê và kali cao sẽ hạn chế khả năng vận chuyển sắt trong cây (Lingle và đồng sự, 1963). Sắt trong cây có tương quan nghịch với các kim loại nặng như đồng, coban, crom, niken và kẽm trong cây. Reuther và Smith (1953) đã kết luận rằng thiếu sắt ở cây liên quan đến hàm lượng đồng trong cây cao..

Nhìn chung, cây trồng có triệu chứng thiếu vi lượng sắt khi hàm lượng sắt trong cây nhỏ hơn 50 ppm Fe. Tuy vậy, cũng có những cây khi hàm lượng sắt lên tới vài trăm ppm mà cây vẫn có triệu chứng thiếu sắt. Do sự tương quan không chặt giữa sắt trong cây và năng suất nên việc phân tích sắt tổng số có thể không chắc chắn, cho ta chỉ số thiếu sắt.

Vấn đề là không thể chỉ dựa vào thống kê cho dù phân tích "sắt hoạt động" trong cây. Để khắc phục mâu thuẫn trên, hiện nay việc đánh giá Fe² được đề nghị dùng nhiều hơn sắt tổng số.
Các cây xanh có hàm lượng Fe² cao hơn so với cây mất màu xanh. Điều này ngược lại với hàm lượng sắt tổng số. Phương pháp phân tích Fe² bao gồm chiết rót mẫu tươi bằng dung dịch 0-phenonthroline (1,5%; pH = 3) và số màu trên máy – 510mm.

Ngộ độc sắt ở cây trồng


Ngộ độc sắt ở cây trồng khá hiếm gặp và ngưỡng ngộ độc cho tới nay chưa được thực sự được rõ ràng. Lúa ngập nước là một ngoại lệ, tình trạng độc sắt trên đất phèn, đất chua nhiều là khá phổ biến. Ngộ độc sắt Với lúa đã được báo cáo ở Tây Nam Á, châu Phi và Nam Mỹ. Theo Prade và đồng sự, lúa ngộ độc

Đối với cây lúa vi lượng sắt xuất hiện ở hai giai đoạn chính, đó là tuần đầu sau khi cấy vì rễ cây mạ rất mẫn cảm với hàm lượng sắt cao trong đất sau ngập nước và giai đoạn từ đứng cái đến trễ khi tính thấm của rễ tăng sẽ hạn chế vi khuẩn quanh vùng rể. Lúa ngộ độc sắt khi sắt trong cây > 300ppm Fe. Ở những giống cây trồng khác nhau có sự mẫn cảm khác nhau với sự thiếu hụt sắt.
Thông thường những cây có nốt sần hay cây mà chất thải từ rễ của nó có khả năng tạo phức với sắt thì có khả năng sử dụng sắt trong đất cao. Những cây này có khả năng chịu được mức sắt thấp trong đất. Ở đất cao trồng lúa, khả năng thiếu sắt cao bởi chúng dễ tạo thành lớp oxit sắt bao quanh rễ. Sự thiếu sắt của cây có khả năng tăng lên do khuynh hướng cây hút nhiều lần, Lân và sắt có tương tác đối kháng nhau.

Trong hầu hết các trường hợp, thiếu vi lượng sắt làm cho các lá non trên ngọn bạc trắng. Triệu chứng ban đầu xuất hiện là vệt trắng lợt hay vàng nhạt ở vùng giữa các gân của những lá non trong khi gân lá còn màu xanh. Trong một số trường hợp có tình trạng bạc toàn bộ lá. Cuối cùng là chuyển trắng và có thể xuất hiện những đốm hoại tử rải rác trên bề mặt lá.
Thiếu sắt làm quá trình sinh trưởng của cây bị đình trệ, một số trường hợp làm cây bị chết. Thiếu sắt làm cây bị rụng lá được ghi nhận ở ngô, trong khi lá bạc trắng thấy rõ ở lúa. Bạc trắng phần thịt lá cũng điển hình ở các cây có múi và dâu tây, trong khi bạc trắng toàn bộ lá thấy rõ trên cây đào.

Dấu hiệu nhận biết thiếu hụt vi lương sắt ở một số cây trồng


Trên đồng ruộng, triệu chứng thiếu sắt không phải lúc nào cũng điển hình. Trong một số trường hợp, cây trồng có thể xuất hiện tình trạng bạc trắng một số lá non trong khi những lá sát cạnh vẫn còn xanh. Một số trường hợp toàn bộ số lá trên cây bạc trắng nhưng một số cây bên cạnh vẫn còn xanh bình thường.




Để xác định chắc chắn tình trạng thiếu vi lượng sắt có thể dùng dung dịch sunfat sắt 1% phun cho cây trống. Trong vòng 2 tuần, nếu cây thực sự thiếu sắt có thể thấy rõ sự chuyển xanh. Sự phát triển của diệp lục tố làm tái sinh lại màu xanh của lá, tuy vậy có thể xuất hiện một số đốm trắng. Hiệu lực của biện pháp này rất rõ với những cây đang có nhiều lá non.

Triệu chứng ngộ độc sắt thường xuất hiện ở lúa nước, đặc biệt là trên đất phèn hay đất chua ủng trũng. Ban đầu các lá già phía dưới xuất hiện những đốm nhỏ màu nâu từ chóp đến mép lá, các đốm này lan dần vào trong và hợp lại, các phần khác vẫn xanh bình thường. Khi ngộ độc sắt nặng, lá khô dần, rễ kém phát triển, cây thấp, khả năng đẻ nhánh giảm, năng suất thấp. Trong một số trường hợp, ngộ độc sắt làm các lá dưới cùng chuyển màu nâu tím.
Ở thuốc lá, ngộ độc sắt làm xuất hiện các đốm màu xám trên các lá non trên ngon và các lá giữa. Các lá này mỏng và mềm, dễ bị rách hay rũ xuống khi trời nắng to.

Hà Phương

Reviews:

Đăng nhận xét

Phân bón vi lượng © 2014 - Designed by Templateism.com, Plugins By MyBloggerLab.com

Liên hệ tư vấn

Được tạo bởi Blogger.