SẮT VÀ VAI TRÒ CỦA SẮT TRONG ĐẤT

 Sự thiếu hụt sắt trên đất kiềm thường thấy rất rõ do pH cao sẽ làm kết tủa sắt di động. Ngược lại, trên đất quá chua mà sắt tổng số thấp cũng có thể xảy ra tình trạng thiếu sắt. Nước tưới và hàm lượng bicacbonat (HCO3) trong đất cao làm tình trạng thiếu sắt trầm trọng hơn


Sắt là nguyên tố phong phú hàng thứ tư và chiếm 5% trong lớp vỏ trái đất. Trong tự nhiên, sắt có nhiều trọng khoáng nguyên sinh và thứ sinh như olivine [(Mg,Fe)2SiO4]  pyrite (FeS), siderite (FeCO3), hematite (Fe2,O3,), goethite (FeOOH), magnetite (Fe3,O4) và limonite [FeO (OH).nH2O + Fe2O3,.nH2O). Hàm lượng sắt trong đất biến động rất rộng, từ 0,7- 55%. Ngoài khoáng nguyên sinh, sắt còn tồn tại trong các khoáng sét, oxit và hydroxit.
- Dạng oxit: hemantite (Fe2O3), magnetite (Fe3,O4), goethite (FeOOH).
- Dạng sunfit: pyrite FeS, pyrhotite (Fe1-xS), jarosite (K3,Fe3 (SO4)2(OH)6).
- Dạng carbonate: siderite FeCO3..
- Dạng sunfat: jarosite [KFe3(OH)6 (SO4)4].

Sự tồn tại của Sắt trong đất


Trong đất, sắt tồn tại ở 4 dạng chính: Khoảng nguyên sinh và thứ sinh; sắt hấp thu, sắt trong hợp chất hữu cơ và sắt tan trong nước. Vòng tuần hoàn sắt trong đất cũng tương tự như các phân bón vi lượng khác.

Sắt thường có mặt trong các chất sau:
Các hợp chất silicate như olivine, augite, hornblende và biotite là nguồn sắt chính trong đất.
- Sắt là thành phần chính của các hợp chất haematite (Fe2O3) và siderite (FeCO3) trong đất.
- Sắt là thành phần của một số khoáng lactice thứ cấp và thiết yếu của phần lớn khoáng sét.
- Sắt là thành phần trong các hợp chất hữu cơ, các phức chất cần thiết cho cây trồng. Phức sắt trong đất có thể tạo thành do vi sinh vật phân giải chất hữu cơ hay tàn dư thực vật. Các chất bài tiết từ rễ cây trồng cũng có khả năng tạo phức với các chất vi lượng, trong đó có chứa phân vi lượng sắt.
- Một lượng nhỏ sắt tồn tại ở dạng sắt trao đổi, Sắt trong dung dịch xuất hiện chính ở dạng Fe(OH)2+. So với các ion khác trong đất, nồng độ Fe3+* rất thấp. Trên đất thoát nước tốt, hàm lượng Fe2+ ở nhỏ hơn so với Fe3+".

Nồng độ sắt tan trong nước rất thấp; cùng với phức sắt-hữu cơ, các dạng sắt tan trong nước như Fe3+, Fe(OH)2+ và Fe2+” có sự biến đổi, chuyển hoá trong trường hợp chế độ khí của đất thay đổi từ yếm khí sang hảo khí,

Trung bình, sắt chiếm 5% trong đất tính theo trọng lượng. Tuy nhiên, sắt tổng số khác biệt đáng kể giữa các loại đất. Đất đỏ thường có hàm lượng sắt tổng số cao (>10%). Đất cát có hàm lượng sắt tổng số thấp (xấp xỉ 1%) và đất cát chua, rửa trôi nhiều có sắt tổng số rất thấp (<1%). Sắt tổng số trong đất chưa phản ánh được dinh dưỡng sắt đối với cây trồng.

Sắt hữu hiệu là phần sắt cây trồng có thể hút được. Hàm lượng sắt hữu hiệu trong đất thấp thường dẫn đến thiếu sắt. Các yếu tố như pH, chất hữu cơ, kết cấu dốt, lân, nhiệt độ, độ ẩm... ảnh hưởng đến sắt hữu hiệu trong đất.
Độ tan của sắt phụ thuộc rất chặt vào độ pH và giảm đi 1000 lần khi tăng 1 đơn vị pH đất. Bằng chứng rõ ràng là sắt hữu hiệu giảm nghiêm trọng khi pH đất tăng.



Vai trò của sắt có trong đất

Sự thiếu hụt sắt trên đất kiềm thường thấy rất rõ do pH cao sẽ làm kết tủa sắt di động. Ngược lại, trên đất quá chua mà sắt tổng số thấp cũng có thể xảy ra tình trạng thiếu sắt. Nước tưới và hàm lượng bicacbonat (HCO3) trong đất cao làm tình trạng thiếu sắt trầm trọng hơn, Bicacbonat có thể được tạo thành trong đất do phản ứng:

CaCO3 + CO2 +  H2O → Ca² + 2H2O

Mặc dù sự hiện diện của một mình canxi không trực tiếp ảnh hưởng đến sự thiếu sắt, song phản ứng của nó với môi trường đất lại dẫn đến sự thiếu sắt.

Một phần lớn sắt hữu hiệu trong đất ở dạng phức hữu cơ. Đất nghèo hữu cơ, hàm lượng sắt hữu hiệu thấp. Bón phân hữu cơ làm tăng khả năng hút và giữ nước của đất, tăng sắt hữu hiệu.
Sử dụng các loại phân bón hữu cơ giúp cải thiện kết cấu đất, làm đất thông thoáng hơn, từ đó tăng sắt hữu hiệu.
Đất có cấu trúc xấu thường nghèo sắt hữu hiệu. Đất cát không những có sắt tổng số thấp mà sắt hữu hiệu cũng thấp, điều này dẫn đến tình trạng thiếu sắt trầm trọng.

Cũng giống như phân vi lượng Kẽm, hàm lượng của Lân trong đất cao làm giảm sắt hữu hiệu đối với cây trồng. Tương tác Fe-P cũng được phát hiện ở một số cây trồng. Điều này có thể liên quan đến sự kết tủa muối sắt phốt phát. Lân có ảnh hưởng đến ngưỡng khủng hoảng sắt do cây trồng có thể chịu đựng được mức sắt thấp hơn khi hàm lượng lớn trong đất cũng thấp.

Nhiệt độ thấp làm chậm tốc độ sinh trưởng, phát triển của cây, đồng thời nó cũng làm giảm quá trình khoáng hoá chất hữu cơ giải phóng sắt hữu hiệu. Như vậy, nhiệt độ thấp làm sự cung cấp sắt cho cây trồng giảm và thiếu hụt sắt càng trầm trọng thêm.
Sự xói mòn hoặc rửa trôi lớp đất mặt dẫn đến tình trạng thiếu sắt với cây trồng. Cây trồng trên những đất này thường bị thiệt hại do lá non bị bạc trắng, khả năng quang hợp giảm, sinh trưởng, phát triển kém và năng suất giảm.

Độ ẩm đất cao liên quan đến sự kém thoáng khí dẫn đến thiếu sắt hữu hiệu, hạn chế sinh trưởng, phát triển của cây trồng. Đất lúa nước là một ngoại lệ, trong trường hợp này nước và sự thiếu khí là yếu tố cần thiết cho sự cung cấp sắt thuận lợi. Trong điều kiện đất thiếu oxi, Fe² chuyển thành Fe2+ làm sắt hữu hiệu tăng và đất lúa nước thường có sắt khá cao. Tuy nhiên, cũng không loại trừ tình trạng lúa thiếu sắt, ở đất có pH cao, hàm lượng chất hữu cơ thấp hay đất cát. Ở những đất này, sự ngập nước lại làm cho sắt hữu hiệu giảm. Khi sắt tan trong nước >300ppm cây trồng sẽ bị ngộ độc. Tình trạng này thường thấy ở đất chua, đất phèn và đất có khả năng phân huỷ hữu cơ mạnh.

Cũng giống như dư thừa phân lân, hàm lượng của đồng, mangan, molypđen và kẽm sẽ ảnh hưởng tới sự hút và sử dụng sắt của cây. Nhiều trường hợp thiếu sắt được phát hiện do sự tích luỹ đồng khi bón phân đồng liên tục một thời gian dài. Ở Hawaii, dứa bị biểu hiện thiếu sắt là do thừa mangan. Một số cây khác trồng trên đất có nguồn gốc từ đá serpentine có triệu chứng thiếu sắt do sự dư thừa Ni (niken). Một số kết quả nghiên cứu cho thấy thiếu sắt ở cây đậu nành liên quan đến tỷ lệ Fe/(Cu + Mn).

Amốn axetat và DTPA là 2 chất thường được dùng để chiết rút sắt hữu hiệu trong đất. Nếu đất có dưới 2 ppm Fe theo phương pháp amôn axetat thì được xếp vào nhóm thiếu sắt.

Ngưỡng khủng hoảng thiếu sắt theo phương pháp chiết rót bằng DTPA trong khoảng 2,5-4,5ppm Fe. Hầu hết các loại cây đều có sự đáp ứng với phân sắt khi Fe 3 2,5ppm. Nếu 2,5 < Fe < 4,5ppm, chỉ những cây mẫn cảm với sắt mới có hiệu quả khi sử dụng phân bón vi lượng sắt.

Xem thêm: Phân bón vi lượng sắt Chelate Fe

Các nguyên nhân dẫn tới sự thiếu hụt sắt.


- Ít bón phân vi lượng có chứa sắt;
- Hàm lượng CaCO3, trong đất cao;
- Hàm lượng bicacbonat trong đất hay nước tưới cao;
- Hàm lượng lớn và đạm nitrat cao;
- Ngập nước quá mức hay điều kiện độ ẩm cao;
- Hàm lượng kim loại Mn, Cu, Zn cao;
- Mất cân đối tỷ lệ cation, yếm khí;
- Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp;
- Mức độ mẫn cảm cao, Bón quá nhiều phân bón hữu cơ chưa qua xử lý ;
- Nhiễm vi rút hay tuyến trùng,
- Do bản chất di truyền của cây;

Hà Phương

Reviews:

Đăng nhận xét

Phân bón vi lượng © 2014 - Designed by Templateism.com, Plugins By MyBloggerLab.com

Liên hệ tư vấn

Được tạo bởi Blogger.